News_Top1_Công nghệ ngân hàng
News_Top2_Moi quang cao

Đầu tư - Tài chính Thứ tư, 18/09/2013 13:35

Vì sao lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cao?

Nền kinh tế Việt Nam từ sau thời kỳ "Đổi mới" đến nay đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, song cũng đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ. Các vấn đề kinh tế nóng bỏng với những câu hỏi "Vì sao" dường như vẫn còn đang bỏ ngỏ lời giải đáp thỏa đáng. Diễn đàn Kinh tế Ứng dụng của Câu lạc bộ các nhà kinh tế, nơi tập hợp các chuyên gia kinh tế hàng đầu Việt Nam, sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi "Vì sao" với mong muốn phân tích, lý giải và đặc biệt là đề xuất các giải pháp khả thi cho những vấn đề kinh tế đã nêu. Địa ốc Việt Nam trân trọng giới thiệu câu hỏi và các câu trả lời - phản biện đầu tiên: Vì sao lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cao?

 

Trước khi trả lời thẳng vào câu hỏi này, xin được “dông dài” chút xíu về “lãi suất là gì?”. Xin thưa, đó là giá “quyền sử dụng” vốn tính trên số vốn mà tổ chức tín dụng (TCTD) “mua” vốn nhàn rỗi từ xã hội để “bán” cho người vay. Trong đó, TCTD “mua” theo lãi suất tiền gửi và “bán” theo lãi suất cho vay.

 

Như vậy, bản thân 100% khối lượng vốn khổng lồ chỉ là giá trị dịch chuyển (gọi là số dư hay tiền gốc), không nằm trong khái niệm giá quyền sử dụng vốn. Toàn bộ chênh lệch bình quân giữa giá mua và giá bán nói trên chính là doanh thu trước thuế của TCTD đối với phần kinh doanh tín dụng. Trong cấu thành của lãi suất cho vay, phần lớn chi phí mà TCTD phải bỏ ra chính là lãi suất huy động trả cho người gửi tiền. Ngoài ra, nếu cố định lãi suất huy động mà tăng doanh thu thì lãi suất cho vay cũng phải cao lên.

 

Có thể tham khảo một bảng tính doanh thu sau đây để hiểu sâu hơn về bản chất của lãi suất: Chúng ta cùng làm bài toán đơn giản để xác định giá ở ngưỡng hiệu quả (C + V = Lscvo) của hoạt động kinh doanh tín dụng, như sau:

 

Nếu gọi M là tổng nguồn huy động được sử dụng cho mục đích đầu tư tín dụng thì (aM) sẽ là tổng dư nợ lớn nhất có thể được, trong đó: a là hệ số sử dụng vốn bằng phần tỷ lệ còn lại của M sau khi trừ đi tổng tỷ lệ dự trữ bắt buộc r + tỷ lệ quỹ đảm bảo thanh toán e của ngân hàng (a = (1- (r+e)) => M x Lstg = aM x Lscvo=> Lstg/Lscvo = a với (0<a<1) =>Lscvo = Lstg/a => đây chính là giá ở ngưỡng hiệu quả của hoạt động cho vay (Trong đó: Lstg: Lãi suất huy động bình quân để có M; Lscvo: Lãi suất cho vay ở ngưỡng hiệu quả chưa tính đến lợi nhuận). Nếu tại thời điểm tính toán, trên thị trường có Lscv cùng loại là i, thì: (i – Lscvo) x dư nợ = DT) chính là doanh thu ròng trên dư nợ trong hoạt động đầu tư tín dụng, bao gồm cả chi phí sản xuất (không tính đến chi phí trả lãi huy động và "thuế" an toàn vốn = Lscv x (R+E)), cả lợi nhuận mà ngân hàng có thể đạt tới. Chúng ta gọi hiệu số này là “chênh lệch lãi suất bình quân đầu ra trừ đi đầu vào".

 

Theo năng lực của các TCTD có trình độ trung bình khu vực tại thời điểm khảo sát cách đây 10 năm và ngay tại thời điểm hiện nay ở khu vực, hiệu số trên (DT) thường ở mức từ 2 đến 2,5% tổng dư nợ và ở Việt Nam thì tổng tỷ lệ doanh thu (DT) nói trên cũng cơ bản ổn định ở mức từ 3% đến 4,5% tổng dư nợ, nghĩa là không chênh lệch nhiều so với khu vực.

 

Cơ cấu tạo nên tổng tỷ lệ DT nói trên khi tham khảo được phân tích các quan hệ cấu thành một cách hợp lý trên cơ sở các số liệu lịch sử và nghệ thuật kinh doanh trong từng điều kiện công nghệ, cạnh tranh và từng thời kỳ khác nhau. Theo đó, bảng cơ cấu dưới đây chỉ là một tài liệu tính toán được từ một số ngân hàng trong khu vực đã khảo sát và cũng có thể tham khảo được cho các TCTD Việt Nam trong cấu trúc chi phí hiện nay để tạo ra sản phẩm dịch vụ “vay để cho vay” hợp lý nhất có thể. Cơ cấu đó như sau:

 

Gọi DT =100%, thì trong đó:

 

1. Chi phí quản lý (khấu hao TSCĐ, lương gián tiếp, công tác phí, quảng cáo, đối ngoại, hội họp...) = 9,5%

 

2. Chi phí văn phòng phẩm: (trang thiết bị rẻ tiền, mau hỏng...) = 7,0%

 

3. Chi phí điện, điện thoại, viễn thông... = 8,5%

 

4. Chi phí dự phòng rủi ro: (tính toán theo từng nhóm TSC rủi ro) = 12%

 

5. Chi tiền lương cho người lao động trực tiếp = 20%

 

6. Chi phí khác = 3%

 

7. Lợi nhuận trước thuế = 40%, gồm: thuế DT, cổ tức (nếu có), thuế vốn, lợi nhuận để lại chia 3 quỹ (khen thưởng, phát triển nghiệp vụ, phúc lợi).

 

 

Nếu giả sử TCTD đạt được tổng DT = 3% dư nợ thì P = 40%x3% = 1,2% dư nợ là đồng nghĩa với chỉ số P/TSC=ROA trong nhóm sản phẩm “vay để cho vay” của TCTD. Các con số trên khác đi thì tương ứng với nó là một chỉ số ROA khác. Nếu con số này tăng thì chiều hướng hiệu quả kinh doanh tốt lên, nếu giảm thì chiều hướng hiệu quả xấu đi...

 

Vậy trở lại câu hỏi: Vì sao lãi suất cho vay của các TCTD Việt Nam luôn cao và cao hơn lãi suất cho vay của các nước trong khu vực tới vài lần và hơn các nước công nghiệp phát triển tới từ 3 đến 5 lần và thậm chí hơn 5 lần!

 

Câu trả lời là:

 

1. Lãi suất huy động (Lstg) ở Việt Nam quá cao. Do để đảm bảo lãi suất tiền gửi thực dương, trong nhiều năm liền lạm phát ở Việt Nam thường cao hơn nhiều nước trong khu vực tới vài ba lần nên TCTD phải huy động giá cao. Cho đến khi phải dùng biện pháp hành chính khống chế bằng “trần lãi suất” tiền gửi thì vẫn phải dựa vào khả năng kiềm chế lạm phát.

 

2. Chênh lệch lãi suất bình quân đầu ra trừ đầu vào tạo thành DT của các TCTD Việt Nam còn quá cao, do phải bao gồm nhiều khoản chi phí lớn hơn các khoản chi tương ứng của các nước trong khu vực. Trong đó đặc biệt là chi quản lý, chi dự phòng rủi ro và chi điện thoại, viễn thông.

 

3. Trong lúc chi phí đã cao nhưng hầu hết các TCTD vẫn cố duy trì lợi nhuận cao trong DT, làm cho tổng DT cao hơn, cùng với giá vốn huy động cao đã cùng tạo hợp lực đẩy lãi suất cho vay lên cao. Nếu lãi suất cho vay vượt quá xa so với tỷ lệ lợi nhuận bình quân toàn nền kinh tế (thường chỉ xoay quanh tỷ lệ tăng trưởng GDP), thì chắc chắn nền kinh tế sẽ không gánh nổi. Phần dôi ra từ sản xuất kinh doanh sẽ triệt tiêu sau khi trả lãi và vốn cho TCTD, nếu người sản xuất quá lệ thuộc vào vốn vay!

 

4. Trong một thời gian khá dài, dù “trần” lãi suất huy động đã được ép xuống theo tín hiệu lạm phát nhưng lãi suất đầu ra của các TCTD vẫn không giảm tương ứng với nhiều lý do được viện dẫn: Cần có độ trễ, tốc độ tín dụng ra nền kinh tế giảm trong khi tốc độ gửi tiền vào tăng nên TCTD chưa thể hạ lãi suất vì phải “nuôi” người gửi tiền…

 

5. Đến lượt nó, do lãi suất cho vay vượt quá sức chịu đựng của nền kinh tế, đã tạo ra một thị trường tín dụng méo mó: Cho vay dưới chuẩn, tạo bong bóng vào các DNNN, BĐS, Dự án lớn, cho vay và đầu tư vào “sân sau”, đầu tư chéo v.v. tạo ra khối lượng nợ xấu tăng cao và hình thành vòng luẩn quẩn riêng có của Việt Nam: Lãi suất cao => sức hấp thụ tín dụng thấp => cho vay dưới chuẩn => nợ xấu cao => lãi suất cho vay cao!

 

Tóm lại, lạm phát cao, vấn đề quản trị kinh doanh tín dụng yếu và sản xuất dựa vào vốn vay với tỷ lệ lớn… là những lý do căn bản làm nên lãi suất cho vay ở Việt Nam cao hơn nhiều so với lãi suất cùng loại ở các nước công nghiệp (chỉ khoảng 2 đến 4%/năm) và cao hơn các nước trong vực (chỉ khoảng từ 4 đến 8%/năm).

 

TS.Nguyễn Đại Lai - Chuyên gia kinh tế (Địa ốc  Việt  Nam) 

 

QC sách